Truyện ngắn Đi giữa mùa xuân của Phạm Đào là một câu chuyện giàu chất nhân văn, thấm đẫm hơi thở cuộc sống vùng cao Tây Bắc trong những ngày xuân đang về. Bằng giọng kể dung dị, giàu cảm xúc, tác giả dẫn người đọc theo bước chân của nhân vật Sùng A Páo – một chàng trai người Mông sống giữa bản làng biên giới đang đổi thay từng ngày. Tạp chí Văn nghệ Lai Châu trân trong giới thiệu truyện ngắn Đi giữa mùa xuân của tác giả Phạm Đào.

Những hạt mưa phùn lất phất bay trên trăm ngàn bông mận trắng trước cửa nhà. Đang ngồi sửa sang lại mấy cái khèn chuẩn bị cho phiên chợ ngày mai – phiên chợ cuối cùng của năm – bất chợt Sùng A Páo thả con dao xuống và lao thật nhanh ra khỏi nhà. Mùa Thị Si thấy lạ, liền lẩm bẩm: chả hiểu người kiểu gì nữa. A Páo chạy ra con đường có rặng hoa đào rừng. Mưa xuân lắc rắc bay, chắc chắn sẽ đánh thức những nụ hoa đào còn đang ngái ngủ. Nhìn những nụ hoa đang chúm chím mà A Páo cứ nghĩ đến nụ cười của đứa con đang nằm nôi; da nó cũng sẽ trắng hồng, môi nó cũng đỏ như cánh đào rừng này đấy. Nghĩ thế, A Páo thấy vui vui. Bạn bè cứ bảo A Páo không biết đẻ, đẻ ra hai đứa con gái mà lúc nào cũng hớn hở. Nhưng A Páo được đi học, A Páo suy nghĩ khác các bạn: con nào mà chẳng là con do vợ chồng mình vất vả sinh ra, nên con trai hay con gái, A Páo đều thương yêu hết.
A Páo nhớ lại năm trước, được sự phân công của xã, anh với cương vị là bí thư chi đoàn đã huy động toàn bộ đoàn viên trong xã cùng bà con bản Hô Tan nghe theo sự chỉ đạo của cán bộ xã, ươm trồng và chăm sóc từng gốc đào rừng dọc hai con đường từ bản vào trung tâm xã. Phát triển một số đồi chè sinh thái, đồi chè hình vân tay; mở chợ phiên vào chủ nhật cuối cùng hằng tháng với mục đích thu hút khách du lịch để bà con mình cũng có thêm thu nhập. Ngày trước, bà của Páo, mẹ Páo cũng chẳng biết bán gì đâu, nhà trồng được gì thì ăn đấy; ăn không hết thì cứ để dành góc nhà, ai cần thì cho thôi. Thường một năm chỉ xuống chợ huyện được một, hai lần: vào ngày mùa để mua lưỡi cuốc, cái liềm, và dịp giáp Tết để sắm chút bánh kẹo, mua thêm cân mỡ, ít thuốc cảm, thuốc đau bụng. Bây giờ có chợ phiên rồi, cả bản, cả xã cùng nhau xuống chợ, đời sống của bà con đỡ khó khăn đi một phần, và quan trọng là bà con được tiếp xúc với nhiều người, được mở mang thêm kiến thức. Còn đám thanh niên thì chúng vui ra mặt, hôm nào chúng chả mong có chợ phiên.
Thời gian đầu, bà con Hô Tan còn hoang mang lắm khi nghe cán bộ tuyên truyền: bà con trồng được gì, nuôi được gì thì đến ngày thu hoạch mang xuống chợ phiên để bán. Bán được, mình lại có tiền để mua những thứ nhà mình không có. Bà của A Páo, mẹ A Páo cứ chần chừ mãi. Họ đã quen với việc ngày mùa lên nương, còn lại ở nhà trồng rau, se lanh dệt vải. Góc nhà bí đỏ chất một góc cao, ngô ngoài sân, trong bếp cũng nhiều, rau ngoài vườn thì nhiều lắm.
A Páo là bí thư đoàn, được đi học hỏi kinh nghiệm từ tỉnh bạn nên A Páo biết cán bộ và người ở các xã lân cận, cũng như khách du lịch, rất chuộng đồ sạch như rau, củ, quả. Bữa cơm nào A Páo cũng nhắc đến chợ phiên và động viên mẹ với bà để hai người cùng xuống chợ.
– Cán bộ ơi, nhỡ không bán được, đến trưa rau héo hết thì làm thế nào?
– Bà con yên tâm, rau sạch mình không lo ế. Nếu hôm nào không bán hết, bà con cứ mang vào xã, cán bộ xã sẽ mua ủng hộ, nên bà con yên tâm trồng trọt và sản xuất cho tốt nhé.
– Chanh leo nhà Mùa A Sung cũng thu hái được rồi, nhớ hái mang xuống chợ nhé!
Tiếng bà con trò chuyện, trao đổi í ới lẫn trong tiếng gió núi mênh mang. Chưa bao giờ được đi chợ gần nhà như thế nên bà con cũng thấy phấn khởi vô cùng. Họ hẹn nhau cùng lên nương trẩy ngô, cùng đi đào gừng, cùng gùi xuống chợ.
A Páo lùa đàn dê ra phía sau núi để chúng tự đi kiếm ăn. Bà Thứ chạy ra cổng dặn với theo: con nhớ cắt gùi lá dong để sáng mai con Si mang xuống chợ phiên bán bớt nhé, nhà mình nhiều lắm, gói hai đợt bánh cũng chả hết lá được. Páo “vâng” rồi xua đàn dê về phía núi. Núi vẫn mơ màng ngủ, những giọt sương mai lấp lánh trên những búp cỏ non, đàn dê tranh nhau gặm cỏ.
Nhìn đàn dê đang lớn và sinh sôi, Páo mỉm cười, trong lòng thầm biết ơn các cán bộ đã kết nối với Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay vốn giải quyết việc làm để phát triển kinh tế. Ở bản Páo, anh là người đầu tiên dám đứng ra vay tiền ngân hàng và chăn nuôi thành công nhất. Trước đó, nhiều bà con trong bản, trong xã cũng từng được vay tiền để mua giống chăn nuôi, nhưng cầm tiền về nhà lại không dám đi mua con giống, sợ nuôi không được, nó chết lại phải đền tiền. Thế là tiền cứ gói kỹ, cất kín một chỗ; đến kỳ trả nợ thì đem trả. Có người thì rút ra tiêu dần rồi cũng hết, đến kỳ thu gốc lại phải bù vào để trả nợ.
Mùa xuân vẫn ngập ngừng đùa rỡn trên những búp non. Con đường trước mắt trập trùng thăm thẳm, cỏ lau trắng xóa hai bên đồi. Cỏ lau đang hát những lời thì thầm của mùa xuân, nhưng với Páo, Páo chẳng bao giờ muốn nhớ đến con đường mịt mùng trước mắt ấy – con đường đã hằn in dấu chân người bố lúc nào cũng tất bật, vội vàng. Chỉ trừ những khi ngồi dưới chái hiên chế tác khèn, còn lại, chưa bao giờ Páo thấy bố thảnh thơi, có khi cả trong suy nghĩ. Ngực Páo chợt nhói đau khi nghĩ về bố. Bố đã đi xa gần chục mùa lê rồi, mà sao Páo vẫn thấy bố như đang đâu đây, ngồi cặm cụi tôi thép, rèn dao. Chiếc chén nhỏ xíu được nặn bằng đất từ thời ông nội Páo để lại đang được bố ủ giữa lửa than hồng rực. Dáng người nhỏ thó, cái mũ nồi cũ kỹ, gương mặt xương xẩu đầy khắc khổ – Páo không thể nào quên.
Bữa cơm cuối cùng, bố ăn vội vàng cùng hai mẹ con trước khi có tín hiệu gọi nhau. Lần đi ấy, bố đi mãi mãi không về. Bố Páo mất trong khi phối hợp với công an triệt phá những thửa ruộng bậc thang trồng cây thuốc phiện nơi thung lũng Tả Sình. Những thửa ruộng được gieo trồng xen với rau cải và cỏ ngựa, đan kín dưới thung sâu, rất ít người biết. Trong một lần đi tìm dê lạc, bố Páo đã phát hiện ra. Nhớ đến lời cán bộ tuyên truyền về tác hại của thuốc phiện, về sự nghèo đói của bà con bản Huổi, bản Hô Tan – mà tất cả nguyên nhân đều bắt nguồn từ cây thuốc phiện – suy nghĩ rất lâu, cuối cùng bố A Páo đã đi bộ ba cây số xuống xã báo cáo tình hình với cán bộ.
Hôm sau, khi bố A Páo đang ngồi sửa lại chiếc khèn thì có hai người đến tìm bố. Không biết họ nói với nhau những gì mà từ hôm ấy, bố A Páo vắng nhà triền miên. Rồi mẹ con A Páo nhận được tin báo từ trưởng bản: bố Páo đã bị bọn thổ phỉ, chủ nhân của thung lũng thuốc phiện kia, sát hại khi chúng biết chính bố là người làm chân trong cho công an.
Phải mất mấy năm, mẹ con A Páo mới quen được sự thiếu vắng bố trong ngôi nhà dưới chân núi lúc nào cũng đẫm hơi sương. Trong ngôi nhà nhỏ ấy, gia tài quý nhất đối với bà Thứ là A Páo và những chiếc khèn bố A Páo để lại. Bà nâng niu chúng như muốn níu giữ chút hơi ấm của người chồng còn lưu lại trong những chiếc khèn.
Mùa xuân về, mùa xuân đang rạo rực cả đất trời theo tiếng khèn bồng bềnh, da diết. Trong nhà, Si đang gọi đứa con gái năm tuổi dậy. Nó đang uể oải, kêu lạnh quá. Với trẻ con, cũng thật khó dậy sớm khi gió núi cứ hun hút, Páo nói vọng vào.
– Thế Chi ở nhà ngủ, không đi chợ phiên nữa nhé. Nhưng là chợ Tết, không đi sẽ tiếc đấy. Em bé mà biết đòi đi chợ thì chị Chi cũng chẳng được đi đâu.
Páo vừa nói dứt lời đã thấy con bé đứng dụi mắt ở bậc cửa. Anh đi vào nhà lấy chiếc áo ấm treo trên móc, đội thêm mũ len vào cho con. Trong khi chờ vợ cho đứa nhỏ ăn no để mẹ Páo ở nhà trông cháu, A Páo ra gùi của hai vợ chồng kiểm tra lại xem đã đủ chưa. Gừng tươi, đỗ đen, thảo quả, mộc nhĩ, lá dong, ngô và ba cái khèn – tất cả đã sẵn sàng để xuống chợ phiên. Hai vợ chồng đeo gùi lên lưng, tay dắt đứa con gái năm tuổi. Páo cảm nhận cơn gió cũng không còn làm run rẩy những bông hoa đào rừng đang chúm chím. Một sớm thật bình yên. Dãy núi trước mắt vẫn đang trùm chăn bông ngủ ngon lành. Bất chợt, mẹ chồng Si chạy theo gọi giật lại và bảo:
– Con nhớ mua lá cờ Tổ quốc mới nhé. Tết đến cũng phải thay mới cho đẹp và may mắn cả năm.
Si khẽ “vâng”, mà lòng vui khó tả. Cô đang mường tượng đến mùa lễ hội, rượu men lá bà con nấu hương thơm khắp bản, bọn trẻ trêu đùa nô nghịch suốt ngày, cây lê, cây mận cũng đang khoe những mầm non. Cây hồng nhà mẹ Si cũng chín vàng lúc lỉu, trưa đi chợ về Si sẽ tạt vào thăm mẹ, tiện thể xin mẹ cành hồng về bày Tết. Hàng đào rừng mà chồng Si mất ăn mất ngủ, chỉ lo cây không lớn, chỉ lo cây không ra hoa kịp mùa xuân, thì đây vợ chồng Si đang đi giữa hàng đào rừng hoa đua nhau nở hồng rực một góc trời, lẫn trong sương hoa đào thật đẹp. Mình còn thấy thích thế này, chẳng trách Páo mê đến thế. Si nhìn sang Páo, chả biết anh đang nghĩ gì mà mắt mơ màng quá thể. Si định hỏi nhưng lại thôi.
Những hạt mưa xuân nhẹ nhàng đậu trên chiếc khăn thổ cẩm của Si, Si cứ kệ, đấy là quà của mùa tặng Si đấy. Lòng người như đang được ủ men vậy. Si nghe rõ tiếng cỏ cây ca hát đánh thức mùa xuân. Nghe rõ cả tiếng suối mùa cạn đang réo rắt giữa trời xuân.
Bất chợt, đứa con gái kéo tay Si hỏi:
– Mẹ ơi, cứ khi nào hoa đào nở là Tết về hả mẹ?
– Ừ, đúng rồi con gái ạ. Hoa đào là loài hoa báo xuân, từ ngày xưa tổ tiên nhà mình đã bảo là thấy đào là thấy Tết.
– Vậy nên ngày nào bố cũng mong hoa đào nở, mẹ nhỉ. Tết năm nay có cả một đường hoa đào ở bản mình, vui thế cơ mà.
Tiếng đứa trẻ con cứ líu ríu suốt dọc đường. Chợ chìm trong sương đã hiện ra trước mắt vợ chồng A Páo. Hai vợ chồng giục con rảo đôi chân nhanh hơn. Đứa con gái bỗng reo lên:
– Bố ơi, trong chợ cũng có mấy cây đào kìa. Ôi, cũng đang nở hoa!
Páo nhìn con âu yếm. Mùa xuân đã về, mùa xuân về trong ánh mắt, trong nụ cười của bà con nơi vùng cao biên giới.
PHẠM ĐÀO
> Xem thêm:
