Mùa Xuân không chỉ là “lát cắt thời gian” của đất trời, mà còn là nơi con người hòa mình bền bỉ giữa thiên nhiên khắc nghiệt và ân tình. Với những giáo viên vùng cao ở Lai Châu, mỗi độ Xuân về là một lần ký ức quê nhà khẽ lay động. Trong nỗi bồi hồi ấy, có sắc đào, có hơi ấm sum vầy còn dang dở, nhưng cũng có sự lựa chọn lặng lẽ và kiên định. Đã có không ít thầy cô, qua bao cái Tết đi qua là bấy nhiêu năm chấp nhận gác lại niềm riêng, âm thầm bám bản, bám trường, gieo chữ nơi non cao. Sự hy sinh ấy không ồn ào, không phô trương, nhưng lặng lẽ bồi đắp nên những mùa Xuân bền vững cho bản làng, từ chính sự nghiệp trồng người giữa muôn vàn gian khó.
Trong căn nhà nhỏ của thầy giáo Hà Văn Hải, giáo viên trường tiểu học xã Ta Gia, nhấp chén trà xuân bốc khói, câu chuyện Tết của thầy bắt đầu bằng một niềm vui rất đỗi đời thường, thầy cởi lòng “năm nay, Tết đến sớm và ấm hơn”. Không chỉ riêng gia đình thầy Hải, mà với nhiều thầy cô giáo đang cắm bản ở Lai Châu, Tết 2026 là một cái Tết đặc biệt. Ngoài lương, họ có thêm khoản thu nhập từ chính sách tiền thưởng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Một khoản không lớn với miền xuôi, nhưng ở vùng cao, đủ để Tết thêm đầy, lòng người thêm ấm.
Thầy Hải quê xã Liên Minh, tỉnh Phú Thọ đã có hơn hai mươi năm gắn bó với giáo dục vùng khó. Năm 2004, khi Lai Châu vừa chia tách tỉnh, nghe thông tin tuyển giáo viên trên đài, chàng trai quê Phú Thọ nộp hồ sơ rồi ngược núi lên Than Uyên công tác và được phận công về dạy học cắm bản ở xã Ta Gia. Cũng chính từ những ngày cắm bản, tuổi trẻ của thầy là những tháng ngày đi bộ vào bản dạy học, ngày nghỉ đi vận động học sinh, ở nhà sàn cùng bà con, uống rượu cần, múa điệu Tằng băng cùng bà con Khơ Mú, những đêm đốt lửa xòe cùng người Thái trong đêm hội Hạn Khuống. Và chính từ những tháng cắm bản dạy học anh đã bén duyên với cô giáo cùng quê. Đám cưới họ là niềm vui chung những người trẻ từ mọi miền đất nước về đây cùng chung sự nghiệp trồng người, là câu chuyện vui chúc phúc của bản mường cho thầy cô nên duyên.

Rồi lần lượt hai đứa trẻ ra đời, lớn lên giữa bản làng của người Thái, người Mông. Hạnh phúc của thầy Hải giản dị lắm: tiếng cười con trẻ hòa trong bước chân ríu rít của học trò mỗi độ Tết đến, Xuân về, khi các em tìm đến thăm thầy cô như về thăm người ruột thịt. Gần hai mươi năm gắn bó với bà con, gia đình thầy đi trọn một hành trình cùng bản làng: từ nơi ở cũ, cùng đồng bào di dời nhường đất cho công trình thủy điện Huổi Quảng, đến những ngôi nhà mới dựng lên giữa vùng tái định cư. Mới đây, vì việc học của con, gia đình chuyển về trung tâm huyện Than Uyên. Nhưng mỗi sớm, khi trời còn bảng lảng sương núi, hai vợ chồng vẫn chở nhau vượt hơn hai chục cây số vào trường. Con đường ấy đã trở nên thân thuộc, quen như lối trở về nhà.
Nhắc đến giáo dục Ta Gia, người ta nhớ ngay đến thầy Đỗ Thế Bằng – Hiệu trưởng Trường Tiểu học, người được xem là gắn bó lâu bền nhất với sự nghiệp gieo chữ nơi miền đất này. Qua những câu chuyện của bà con trong bản, cái tên thầy Bằng được nhắc đến với sự trân trọng, như một phần ký ức chung của nhiều thế hệ học trò. Ít ai biết rằng, thầy đặt chân đến Than Uyên từ năm 1988, khi Lai Châu còn là một tỉnh rộng dài chưa chia tách. Quê ở Ân Thi (tỉnh Hưng Yên), thầy Bằng mang theo hành trang của người thầy trẻ, bền bỉ đi qua những năm tháng gian khó nhất của giáo dục vùng cao, để rồi ở lại, lặng lẽ góp phần dựng xây nền móng cho giáo dục Ta Gia hôm nay.
Gần bốn mươi năm trước (năm 1998), vừa tốt nghiệp trường sư phạm, chàng trai quê nhãn lồng khi ấy mới tròn hai mươi tuổi, mang theo sức trẻ và niềm háo hức của những ngày đầu vào nghề. Anh lên Tây Bắc với tâm thế phơi phới, như tinh thần trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: “Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc/ Khi lòng ta đã hóa những con tàu…”. Từ những ngày đầu về bản dạy học ăn gạo nương, uống nước suối; ngày nghỉ theo bà con lên rẫy, xuống suối bắt cá, đến những tháng năm cắm bản bền bỉ gieo chữ. Con chữ anh gieo khắm các bản làng xã Tà Hừa, Mường Kim, Ta Gia, giờ thì cuộc đời anh dần gắn chặt với miền đất này. Giờ đây, khi các con đã trưởng thành, chỉ còn ít năm nữa là đến tuổi nghỉ hưu, thì Ta Gia không chỉ là nơi công tác, mà đã trở thành quê hương thứ hai anh từ lâu rồi.
Những ngày giáp Tết, sân trường Mầm non Giang Ma, xã Tả Lèng rộn ràng sắc màu. Vật liệu trang trí ngổn ngang, tiếng cười trẻ nhỏ ríu ran. Thấy khách đến, cô Nguyễn Hồng Huệ – Hiệu trưởng nhà trường ngơi tay chia sẻ: năm nào cũng vậy, cô trò lại dựng lên một không gian Tết xưa để các con được trải nghiệm gói bánh chưng, hiểu ý nghĩa ngày Tết, nhận biết hoa đào, học những câu chúc đầu năm.

Năm học này, trường Mầm non Giang Ma hiện có 364 cháu, 13 nhóm lớp tại 6 điểm trường; 100 học sinh bán trú, hơn 90% là con em người Mông, còn lại là người Dao. Phần lớn giáo viên là các cô từ miền xuôi lên theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước, hoặc theo bước chân cha mẹ gắn bó với vùng biên viễn này.
Với cô Huệ, đã hơn hai mươi năm gắn bó với giáo dục vùng cao. Quê ở Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ), khi ra trường lên dạy ở Lào Cai, rồi ngược lên Sìn Hồ, Tả Lèng, nay cô đã ổn định nhà cửa và trở thành “người Bình Lư chính gốc”. Cái khó lớn nhất của giáo viên cắm bản, theo cô, là sau Tết nề nếp học sinh thường chệch choạc, nên những hoạt động xuân, những không gian văn hóa truyền thống chính là cách níu chân trẻ nhỏ đến trường.
Còn cô Nguyễn Thị Lợi – Phó Hiệu trưởng thì coi Lai Châu là quê hương thứ hai từ lâu. Sinh ra ở Mường Lay, lớn lên trong gia đình đi xây dựng vùng kinh tế mới, năm 2006, khi vừa tròn hai mươi tuổi, cô nhận công tác ở Nùng Nàng – xã người Mông. Ngày ấy, lớp học cũng là nơi ở, góc cuối lớp ngăn tạm làm chỗ ngủ. Đêm đầu nơi bản vắng, nước mắt chảy vì nhớ nhà. Nhưng mỗi sớm, lũ trẻ ríu rít tìm cô, bà con đi nương có gì lại mang về biếu. Ngày nghỉ, cô theo bà con lên rừng, xuống suối; khi cô về thị xã, bà con lại gửi mua muối, mì chính, quà của cô khi về bản là gói kẹo, cái bánh nướng và nụ cười của con trẻ. Tuổi trẻ của Lợi đọng mãi là khi xuân về, cô cùng đồng nghiệp xuống núi dự hội Gầu Tào, xem trai gái ném pao, thổi khèn, và từ đó, tình yêu với vùng đất này lớn dần, không muốn rời xa.
Ngược núi Tả Lèng – miền đất được ví như nơi hội tụ những thửa ruộng bậc thang đẹp nhất nhì Lai Châu. Mỗi sớm, bước chân thầy cô vẫn lặng lẽ in trên con dốc quen thuộc để đến trường. Giữa sương núi bảng lảng, trong cái bắt tay ấm áp và nụ cười hồ hởi, thầy Nguyễn Văn Trưởng, Hiệu trưởng Trường THCS xã Tả Lèng, chậm rãi chia sẻ câu chuyện của một ngôi trường vùng cao còn nhiều gian khó. Năm học này, trong tổng số 470 học sinh, có 150 em ở bán trú. Điều đó đồng nghĩa với những đêm trực nối tiếp, tuần nào cũng hai buổi, khi ánh điện ký túc xá chưa tắt, trách nhiệm của thầy cô vẫn còn nguyên. Không chỉ là việc dạy chữ, mà từ bữa ăn, chỗ ở, nếp sinh hoạt đến những kỹ năng sống đầu đời của học trò tuổi mới lớn đều được nhà trường chăm chút. Từ cách ăn mặc gọn gàng, giữ gìn vệ sinh cá nhân, đến thói quen ứng xử, tất cả đều được uốn nắn từng ngày, âm thầm mà bền bỉ.
Bởi vậy, bên cạnh giờ học trên lớp, ngôi trường nhỏ giữa núi cao đã hình thành nhiều câu lạc bộ: Khèn Mông, Tin học, Âm nhạc… như những khoảng trời riêng để các em được bộc lộ năng khiếu và lớn lên cùng ước mơ. Đặc biệt, câu lạc bộ trẻ em gái được các cô giáo dành nhiều tâm huyết, giúp các em dần hình thành kỹ năng, sự tự tin và ý thức hoàn thiện bản thân – những hành trang cần thiết để bước ra khỏi những triền núi quen thuộc, vững vàng hơn trong cuộc sống phía trước.
Có lẽ, trong câu chuyện đón Xuân trên đỉnh Tả Lèng, người chất chứa nhiều kỷ niệm nhất là cô giáo Nguyễn Thị Thảo. Quê ở Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa), cô lên Lai Châu từ năm 2006, và xã Tả Lèng đã trở thành nơi cô gửi trọn những năm tháng thanh xuân lặng lẽ mà bền bỉ.
Những lớp học tạm giữa núi rừng, những bữa cơm chung cùng học sinh bán trú, cả những đứa con chào đời trong khu tập thể giáo viên… tất thảy đã hòa quyện, trở thành một phần đời không thể tách rời của cô. Dẫu nay đã có nhà ở phường Đoàn Kết, mỗi ngày cô vẫn đều đặn ngược núi, vượt dốc đến trường, như một thói quen đã ăn sâu vào nhịp sống. “Tả Lèng là quê rồi, chắc gắn bó đến lúc nghỉ hưu thôi”, cô nói, giọng nhẹ như mây núi, để lại phía sau một mùa Xuân lặng lẽ mà bền lâu trên đỉnh Tả Lèng.
Thầy Lê Đình Lợi, chàng trai quê Hà Nội năm nào, nay đã có hơn hai mươi cái Tết đón Xuân trên đất Lai Châu. Những chuyến băng rừng, vượt dốc vào bản vận động học sinh đến lớp đã se duyên thầy với một cô giáo tiểu học cùng nghề. Hơn hai mươi năm qua, họ lặng lẽ song hành, như hai véc-tơ cùng hướng, bền bỉ tiến về phía trước giữa bao thăng trầm đời giáo.Sau mỗi buổi học, sân trường lại rộn ràng bởi những hoạt động câu lạc bộ: Khèn Mông, văn học, tin học, thêu thùa, cờ vua… Tiếng khèn ngân lên giữa khoảng trời núi cao, hòa trong sắc đào hồng vừa kịp nở giữa làn mây bảng lảng. Trong khoảnh khắc ấy, mùa Xuân dường như không còn ở đâu xa, mà đang lặng lẽ lan tỏa, rất gần, ngay trong nhịp sống bình yên của ngôi trường vùng cao.
Chiều xuống chậm trên những sườn núi, mây từ dãy Pu Ta Leng trôi qua mái trường, sà xuống những mái nhà rêu cũ, hòa trên những nụ đào, mận đang hé nú chờ nắng xuân. Tiếng khèn của đán trẻ cứ tan dần trong cái lạnh cuối năm. Và ở nơi tưởng chừng xa xôi nhất ấy, Tết không chỉ hiện lên trong mâm cơm đủ đầy hơn, trong cành đào nở muộn, mà còn trong sự yên tâm, gắn bó của những người đã chọn ở lại.
Với các thầy cô giáo vùng cao, từ lâu, Tết xa quê đã thành quen. Quê hương không còn nằm ở một địa danh cố định, mà hiện hữu trong từng con chữ dạy trẻ, trong mỗi buổi ngược núi đến trường, trong ánh mắt học trò sáng lên giữa mênh mang mây núi. Khi đất lạ hóa quê hương, mùa xuân cũng theo đó mà về – lặng lẽ, bền bỉ, như chính những người thầy, người cô đang ngày ngày gieo chữ nơi đầu nguồn gió núi.
HÀ MINH HƯNG
> Xem thêm:
Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta – Thanh Hoa
