Lai Châu những ngày chuyển mùa, sương chùng chình khắp các nẻo rừng trắng muốt hoa ban, hoa mận, tiếng chim rừng gọi bạn vang vọng suốt dọc dài dãy Hoàng Liên Sơn, như chạm vào mây trời những khắc khoải, nhớ nhung của chàng Khum(1) năm nào. Ngược dòng Đà Giang, tôi đi về phía thượng nguồn, nơi mây và núi dường như sinh ra để dành cho nhau, giống như những con người nơi đây, họ sinh ra từ bản làng, lớn lên bằng nguồn văn hóa truyền thống, và bây giờ họ trở thành “chủ nhân” gìn giữ văn hóa dân tộc để ngọn lửa ấy cháy mãi, cháy mãi… trong nhịp sống hiện đại hôm nay.
Ở Lai Châu, văn hóa truyền thống không phải là kiến thức từ trang sách hay đóng khung trong bảo tàng, thư viện mà luôn hiện hữu trong nhịp sống đời thường. Đó là những làn điệu dân ca, điệu múa, tiếng đàn, tiếng khèn hay những câu chuyện cổ…Vì vậy, để mạch văn hóa ấy chảy mãi trong đời sống dân tộc, phải kể đến công sức của những già làng, trưởng bản, văn nghệ sĩ, nghệ nhân văn hóa dân gian và người dân bản địa. Họ là những người đang miệt mài lưu giữ, truyền dạy, thổi hồn và tạo nên sức sống mới cho các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện nay.
Trong hành trình đi tìm “người giữ hồn văn hóa dân tộc” của mình, tôi đã gặp nhiều người như thế. Có những người đã ở độ tuổi “thất thập cổ lai hi” nhưng cũng có những người còn rất trẻ. Họ đều là những người yêu văn hóa dân tộc, khao khát gìn giữ và lan tỏa nét đẹp văn hóa truyền thống, vì thế, vượt lên hết mọi giới hạn của tuổi tác, sức khỏe, định kiến họ kiên nhẫn truyền dạy từng điệu múa, từng câu dân ca, ghi chép từng chữ viết, phục dựng từng nghi lễ quan trọng trước khi bị thời gian quên lãng. Trong câu chuyện họ kể, trong công việc họ làm, tôi cảm nhận được tình yêu sâu nặng họ dành cho văn hóa dân tộc. Đó là thứ tình yêu bền bỉ, đi qua năm tháng của cuộc đời, được âm thầm nuôi dưỡng trong tâm hồn mà không phải ai cũng giữ được, có được.

Thiết nghĩ, nếu không có họ, liệu những thanh âm trong trẻo của núi rừng ấy có tiếp tục được vang lên, được nhiều người biết đến không? Những đêm hội, những mùa xuân có còn rộng ràng dưới ánh trăng bàng bạc giữa không gian bao la của núi rừng? Tôi không nghĩ đến viễn cảnh ấy và cũng không mong muốn điều đó xảy ra. Bởi tôi cũng rất yêu rừng, yêu núi, yêu mạch nguồn văn hóa chảy qua bao thăng trầm của lịch sử và thời gian trên mảnh đất này. Tôi thầm cảm phục và trân quý biết bao những người đang lặng lẽ gìn giữ ký ức văn hóa truyền thống dân tộc cho hôm nay và cho cả mai sau.
Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là xã Than Uyên, nơi có cánh đồng Mường Than nổi tiếng và được mệnh danh là một trong bốn cánh đồng đẹp nhất Tây Bắc: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”. Chiều buông, ánh nắng cuối ngày rải thành vệt như rẽ quạt trên cánh đồng, bùn non đã lắng, bám chặt chân mạ để màu xanh lấm tấm nổi lên trên tấm thảm đất tráng nước lang láng. Giữa không gian mênh mông ấy, tiếng đàn tính làm xao xuyến bao cô gái lại vang lên… Đó là tiếng đàn của nghệ nhân ưu tú Lò Văn Sơi. Tiếng đàn của ông chậm rãi, như tiếng lòng của người đang muốn dành khoảng không gian yên tĩnh cuối ngày để hồi cố về một thuở Than Uyên trong ký ức. Những năm gần đây, ông đã miệt mài truyền dạy lại cho thế hệ trẻ từng lời Then, từng làn điệu dân ca hay một số nghi lễ trong phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Thái ở Than Uyên. Như ông kể: Có những bài Then tưởng chừng đã thất truyền, nhưng nhờ việc kiên trì đi tìm gặp các cụ cao niên trong bản, ghi lại và phục dựng mà bây giờ có cái để truyền dạy cho lớp trẻ hôm nay. Với ông, giữ được tiếng đàn tính, giữ được lời Then cũng chính là giữ lại một phần linh hồn của bản làng, của cộng đồng dân tộc Thái ở Than Uyên.
Đi theo con đường nối quốc lộ 32 và quốc lộ 4D từ Than Uyên về bản San Thàng, phường Tân Phong (tỉnh Lai Châu), tôi đến gặp nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Lò Văn Chiến. Ông chính là người giữ hồn văn hóa dân tộc Pú Nả ở Lai Châu. Trong căn phòng làm việc giản dị của ông, những tập bản thảo, những cuốn sổ dày được xếp ngay ngắn, cẩn thận trên chiếc bàn đã nhuốm màu thời gian. Với ông, đó là những tài sản vô giá. Ở cái tuổi ngoài tám mươi, ông vẫn rất minh mẫn, giọng nói dõng dạc, hào sảng khi kể về kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc Pú Nả ở Lai Châu. Ông kể, hành trình đi tìm “hồn” cho văn hóa của dân tộc Pú Nả được bắt đầu từ những câu chuyện cổ tích mẹ đã kể. Khi nghe thông tin có sự tương đồng giữa dân tộc Pú Nả ở Lai Châu và dân tộc Bố Y ở Hà Giang, ông đã có nhiều chuyến đi khảo cứu, so sánh, ghi chép tư liệu để tìm cho bằng được “hồn vía” của dân tộc mình. Từ những tư liệu ấy, ông đã biên soạn và xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Pú Nả: Từ vựng Pú Nả – Việt, Thơ dân ca Pú Nả, Then của người Pú Nả, Dân ca giao duyên Pú Nả… Mỗi một cuốn sách là một lát cắt của đời sống văn hóa dân tộc Pú Nả được ông kỳ công nghiên cứu, sưu tầm và đưa vào đời sống cộng đồng. Hiện nay, ông cùng bà con trong bản vẫn tiếp tục duy trì bảo tồn Câu lạc bộ bảo tồn văn hóa Pú Nả với hơn 30 thành viên. Nhiều bạn trẻ, nhờ được tham gia sinh hoạt trong Câu lạc bộ mới hiểu được giá trị văn hóa của dân tộc mình. Mỗi mùa trăng đi qua đỉnh Hoàng Liên Sơn, tuổi ông ngày một luống, nhìn những trang bản thảo dang dở mới thấy những trăn trở gìn giữ văn hóa dân tộc của ông còn nhiều lắm. Ông nói: Văn hóa là tiếng hát, là nghi lễ, là những câu chuyện… nếu không lưu giữ thì nó chỉ còn lại trong ký ức của cộng đồng.
Chia tay nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Lò Văn Chiến, đi thẳng tỉnh lộ 129 đến Phong Thổ gặp nghệ nhân ưu tú Điêu Văn Thuyển – người “giữ hồn” chữ Thái cổ ở khu vực Mường Lay, Mường So bây giờ. Như ông chia sẻ: Ngày xưa, những truyện thơ, trường ca, những bài cúng tế trong lễ hội tâm linh, lịch bói toán…Được ghi chép bằng tay thành sách, hoặc khắc trên bia đá, viết trên vách đá truyền lại cho đời sau nhưng hiện nay đã bị thất lạc nhiều. Bằng niềm đam mê với văn hóa của dân tộc mình, ông đã tự học chữ Thái cổ và chữ Thái mới hiện nay để có thể sưu tầm, phiên âm, biên dịch lại những tác phẩm thơ văn, những bài dân ca, bài cúng… Hiện nay, lễ hội “Gội đầu tết” và lễ hội “Đua thuyền và quăng chài năm mới” ở xã Phong Thổ vẫn sử dụng các bài cúng lễ do ông sưu tầm. Bao năm qua, ông đã điền dã, sưu tầm và ghi chép lại nhiều tư liệu văn hóa của dân tộc Thái, đặc biệt là hệ thống chữ viết của người Thái cổ. Không chỉ vậy, khao khát giữ hồn văn hóa dân tộc đã thôi thúc ông, kết nối với chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh thành lập Câu lạc bộ bảo tồn văn hóa dân gian dân tộc Thái. Đây là không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa văn nghệ mà còn là lớp học chữ Thái cổ, học chơi các nhạc cụ truyền thống dân tộc Thái của nhiều thế hệ đang sinh sống, làm việc và học tập trên địa bàn xã Phong Thổ.
Nếu dân tộc Thái có một không gian văn hóa rộng lớn thì văn hóa dân tộc Si La lại như một mạch nguồn bé nhỏ nhưng không kém phầm mãnh liệt vẫn âm thầm chảy, hòa quyện với dòng chảy văn hóa đa sắc màu của cộng đồng các dân tộc ở Lai Châu. Là một trong số những dân tộc ít người ở Việt Nam nhưng dân tộc Si La vẫn giữ được những nét đặc trưng của văn hóa truyền thống qua các phong tục, nghi lễ, kiến trúc nhà ở, trang phục truyền thống, lời ca tiếng hát… Và thế là, tôi lại dong duổi về bản Can Hồ, xã Bum Tở để gặp nghệ nhân ưu tú Hù Cố Xuân trong một buổi tối cuối xuân. Cái lạnh xót mùa ở vùng cao cũng buốt, cũng rét nhưng hình như bớt cóng hơn khi những câu dân ca Si La được cất lên từ những chàng trai, cô gái còn rất trẻ. Lời ca chậm rãi, mộc mạc, giản dị như nhịp thở của núi rừng ở miền biên viễn của tổ quốc. Dù tuổi đã thất thập, dáng người nhỏ bé của bà lọt thỏm giữa vòng tròn những bạn trẻ đang háo hức cất lời ca tiếng hát của dân tộc mình. Bà chỉnh từng nhịp, sửa từng chữ “ à… ê…” một cách miệt mài, tỉ mỉ. Đứng giữa không gian ấy, tôi như thấy một dòng chảy văn hóa đang luân hồi từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, giản dị mà thiêng liêng đến vô cùng. Phải chăng, khi tình yêu đủ lớn, con người ta có đủ sức mạnh để vượt qua những được mất mà sống, cống hiến cho cuộc đời? Nhìn người phụ nữ Si La bé nhỏ ấy, mới thấy ngọn lửa văn hóa giữa rừng già biên viễn chưa bao giờ tắt. Khi đêm văn nghệ kết thúc, bà cầm tay tôi như nhắn nhủ: Bà không biết nói lời hay, nhưng dân ca, tục ngữ Si La thì nhiều cái hay lắm. Chỉ mong còn khỏe mà dạy cho con trẻ, để một mai nếu có theo mây núi, bà cũng yên lòng.
Xuống núi, tôi vẫn còn nghe đâu đó những thanh âm quen thuộc của núi rừng. Đó là câu hát cổ văng vẳng ra từ hiên nhà sàn, là tiếng khèn trầm bổng trong gió, là tiếng gọi nhau của bà con sau một ngày lên nương. Những thanh âm ấy, tưởng như mỏng manh trước nhịp sống đổi thay, nhưng lại bền bỉ như mạch nước ngầm trong lòng núi. Bởi ở nơi này vẫn còn những con người lặng lẽ giữ hồn văn hóa dân tộc để truyền lại cho lớp trẻ. Mỗi người một cách nhưng họ đều là những người giữ ngọn lửa văn hóa dân tộc từ bản làng. Và tôi tin rằng, chừng nào ngọn lửa ấy còn cháy thì hồn văn hóa của núi rừng Lai Châu vẫn còn, lấp lánh, trầm sâu và bền bỉ như chính dáng núi nghìn năm đứng lặng giữa đại ngàn Tây Bắc.
Chú thích: (1) Chàng Khum trong “Chuyện tình nàng Ban”.
CHÂM VÕ
> Xem thêm
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong chiếc lược phát triển Lai Châu – Tẩn Lao U
