Ông Kẻo – Thanh Luận

          Từ cái lần tôi gặp ông Lò Văn Kẻo ở hội nghị những người nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Đến nay nếu tính ngày, tính tháng, vậy mà đã mười năm. Bây giờ ông Kẻo thế nào tôi không được rõ.

          Cứ mỗi lần nhớ tới ông, tôi vẫn hình dung dáng vóc về một con người tuy không to lớn nhưng béo khỏe, nước da như mầu cánh kiến sẫm, bắp chân, cánh tay nở nang chắc nịch. Đặc biệt, ông có bộ râu quai nón đen kịt, nhưng có mọc khỏi mặt là ông cạo bằng sạch. Đã có lần ông nói vui nhưng rất thật, ở cái thời bao cấp lưỡi dao cạo cũng bán phân phối mỗi lần chỉ được mua không quá năm lưỡi, ấy là nghe cán bộ công chức nói, chứ ông là nông dân làm gì có tiêu chuẩn phân phối. Mà nếu được, với loại râu ria của ông biết mấy cái mỗi lần cạo cho đủ. Do vậy, mỗi khi ông cạo râu, ông phải mài con dao nhọn, nhỏ bằng hai ngón tay mua của người Mông vì dao của họ rèn tôi nước thép tốt nên dao sắc như nước.

          Ông Kẻo là dân tộc Lào, ở bản Nà Luồng, xã Nà Phát. Ông được bà con tín nhiệm bầu làm chủ tịch Hội Nông dân tới mười một năm liền. Người Chủ tịch ấy đã để lại cho nhân dân xã ông và riêng với tôi những kỷ niệm khó quên, mà tới bây giờ cứ mỗi khi nhắc đến là tôi tự nhiên cười rũ rượi một mình. Cười đến khi phải đi làm việc gì hoặc gặp người khác mới thôi. Chuyện là thế này: Tại hội nghị nông dân sản xuất kinh doanh giỏi của huyện. Ông Kẻo được lên báo cáo điển hình, mọi người khác lên báo cáo đều có bản thành tích cầm theo. Nhưng chỉ có riêng ông Kẻo lên phát biểu toàn nói vo. Vậy mà ông nói trôi chảy, đâu vào đấy tới mười lăm, hai mươi phút đồng hồ. Trong thời gian ấy có tới ba lần hội trường có lúc phải nín cười không dám bật ra tiếng, cười ra nước mắt.

          Lần thứ nhất ông nói sơ qua về bản thân, gia đình. Ông nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, là con trai độc nhất, bố thì mất sớm, tôi phải cùng mẹ lam làm để nuôi bốn đứa em còn nhỏ. Tôi biết cầy ruộng, cuốc nương từ lúc mười lăm tuổi dưới trời nắng mưa vất vả quanh năm. Từ năm mười tám tuổi đến giờ mặc dù cơm gạo không đủ ăn, gia đình đều lấy sắn ngô làm lương thực thay gạo. Hai loại hoa mầu này nhà tôi trồng nhiều nhất bản. Ăn khổ như vậy nhưng mỗi bữa tôi phải ăn đủ sáu bát cơm vào bụng, một ngày ăn ba bữa đều nhau tổng cộng là mười tám bát cứ đều đều như thế mới có sức cày cuốc từ sáng đến cuối ngày”. Tất cả các đại biểu ngồi dưới hội trường nghe đều lắc đầu lè lưỡi. Nhiều người nhìn nét mặt như co lại vì họ khiếp cái bụng của ông Kẻo sao mà “vĩ đại” đến như vậy. Ông còn nói: đấy là ăn chính bữa còn ăn vặt, uống vặt không tính.

          Lần thứ hai cười đến vỡ bụng. Ông kể rằng: Mỗi khi vào thời vụ phải cày ruộng, cuốc nương cho kịp gieo cấy. Ông bảo, một mình ông làm ba con trâu mệt đến bã người. Nghe đến đây, cả hội trường lại rộ tiếng cười. Thấy nhiều người cười quá, ông mới giải thích rạch ròi là thế này: Nhà ông có ba con trâu, mỗi ngày đi cầy đều dắt theo, căn cứ vào diện tích đất nước và ruộng nên ba con thay nhau, con này mệt thì thả cho ăn cỏ, lại thay con khác vào cầy tiếp. Cứ như thế nên có ngày mặt trời sắp lặn mới nghỉ. Lúc này mọi người mới vỡ lẽ và rất thông cảm vì anh em người dân tộc hay nói tắt, nói thật. Đáng lẽ ra phải nói tôi dùng ba con trâu thay thay nhau cầy lại nói tôi làm ba con trâu mệt lử, cười là ở chỗ đó.

          Lần thứ ba, cả hội trường vui nhộn lên vỗ tay nhiệt liệt. Ông nói: Suốt mười một năm qua. Ông Kẻo làm Chủ tịch Hội Nông dân xã Nà Phát, thành tích lớn nhất là đã tạo được sự chuyển biến về tập tục sản xuất làm ăn cũ. Cả năm có một vụ lúa, vụ ngô, năm mưa thuận gió hòa thì mùa măng còn thu được bõ công cấy cầy, vun trồng. Năm gặp hạn, mưa nhiều thì bị thất thu và cái đói lại kéo về từng nhà gõ cửa hành hạ con người. Từ khi ông Kẻo làm Chủ tịch do chịu khó học hỏi, tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật tìm giống mới có năng suất cao. Và chính ông là người đầu tiên hướng dẫn, vận động bà con chuyển đổi cây trồng vật nuôi, thực hiện quay vòng đất đưa cây ngô, cây lạc, đỗ, khoai tây xuống ruộng khi thu hoạch lúa xong. Nà Phát là xã mở khâu đột phá của toàn huyện đưa cây mầu xuống ruộng, liên tục đạt bội thu. Nhờ có tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, đời sống của nông dân không ngừng được nâng lên. Cái đói, cái nghèo cứ dần bớt đi nhường cho cuộc sống mới ngày một phát triển. Bà con dân tộc Nà Phát rất mến phục ông Kẻo. Ông cũng là người đầu tiên thoát nghèo trở thành giầu có nhất xã. Gia đình ông có mười hai con trâu, năm chục con dê, hàng chục lợn sinh sản và lợn thịt, mỗi năm thu ba, bốn tấn thóc, ngô. Ông có vườn cây vầu hàng trăm cây, bây giờ lại có máy xay xát và con đi dậy học bằng xe máy sang các xã bản bên. Ông Kẻo còn giúp đỡ nhiều gia đình về kinh nghiệm sản xuất giống cây con và thóc gạo cho các gia đình khó khăn, túng thiếu khi giáp vụ và không may gặp hoạn nạn.

          Thật không ngờ, sau chục năm trời lần này trong một chuyến công tác về thăm xã Nà Phát tôi tìm đến nhà ông Kẻo và thật ngỡ ngàng trước diện mạo bản mường cũng như cuộc sống nơi đây có bao điều thay đổi đến chóng mặt. Nà Phát hôm nay đang thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Nếu mười năm trước đây khi ông Kẻo mời tôi vào nhà chơi. Ngày ấy, con đường từ trụ sở xã về nhà ông là con đường đất lầy lội, nhỏ hẹp lại phải qua một đoạn dốc khi đến gần nhà mà chưa rõ nhà ở đâu vì cây và tre chắn khuất. Buổi tối ăn cơm phải thắp đèn dầu hỏa và đốt bếp lửa, thì hôm nay đã khác lắm rồi. Toàn xã có điện lưới quốc gia, đường đi trong xã đã bê tông hóa, trường trạm bề thế khang trang đẹp đã. Ông Kẻo bây giờ ở tuổi gần tám mươi nhưng vẫn khỏe, bước đi nhanh nhẹn, tiếng nói vẫn còn sang sảng như ngày nào. Khi gặp tôi tay bắt mặt mừng niềm vui khôn xiết. Bao kỷ niệm giữa ông Kẻo và tôi của một thời cứ ùa về, nhắc đến chuyện gì ông Kẻo đều nhớ hết.

          Tôi hỏi vui với ông Kẻo:

          – Bây giờ mỗi bữa còn ăn được sáu bát cơm nữa không?

 Ông Kẻo cười với giọng thuốc lào khà khà rồi nói:

          – Xin đầu hàng rồi, tuổi cao cái sức rút xuống theo năm tháng. Như cái chai rượu hai anh em mình đang uống, lúc đầu thì đầy, bây giờ chỉ còn ngần này không đủ rót hết lượt. Vì vậy mỗi bữa cơm hàng ngày chỉ ăn được ba bát đầy thôi, dù có thịt cá hay rau măng. Còn rượu uống thấy say thì thôi.

Tôi lại hỏi ông Kẻo:

          – Hàng năm vào thời vụ có còn đi cầy ruộng, nương được không?

          Ông Kẻo nói:

          – Đã có con nó làm, còn bản thân ở nhà vẫn lao động, vì không làm cái ốm nó kéo về.

Mỗi lần nâng chén rượu xong ông lại kể cho tôi nghe về chuyện cùng trưởng bản đi vận động bà con hiến đất để mở đường, làm nhà trẻ, làm nhà văn hóa,… Nhà ông cũng hiến hơn ba ngàn mét đất cho các công trình này thuộc tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

          Sau mấy ngày tôi ở Nà Phát và được gặp lại ông Kẻo. Hôm nay ra về ngồi trên xe mà tôi vẫn nghĩ tới Nà Phát, nhớ tới ông Kẻo. Và liên tưởng lại cái thời ông làm Chủ tịch Hội Nông dân lúc ấy ông mới gần năm chục tuổi, ăn những mười tám bát cơm trong ba bữa một ngày, “làm ba con trâu” “mệt lử” lại không nhịn được cười. Điều tôi cảm nhận và vui nhất hôm nay Nà Phát quê hương ông đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới ba năm nay. Bây giờ Nà Phát thực hiện sáp nhập còn hai xã nữa là Nà Tăm, Bản Pó thành một xã lấy tên chung là xã Nà Phát. Thảo nào lúc uống rượu trong bữa cơm chia tay chúng tôi trong đoàn văn nghệ sỹ của tỉnh đi thực tế nên ông Kẻo cứ trầm trồ khen Nà Phát bây giờ to lắm, số dân lên tới gần mười ngàn người của bốn dân tộc Lào, Lự, Mông, Mảng đoàn kết bên nhau vui lắm. Ông Kẻo còn bảo: Ý Đảng hợp với lòng dân rồi đây sẽ phát triển mạnh về mọi mặt.

          Tạm biệt Nà Phát, chia tay ông Kẻo, xe chúng tôi ra khỏi xã mấy cây số vẫn nghe văng vẳng tiếng reo rì rào của dòng suối Nậm Mu và lời ông Kẻo dặn lúc chia tay. Anh em nhớ luôn về thăm Nà Phát mới chúng tôi đấy nhé!

THANH LUẬN

> Xem thêm:

Tạp chí Văn nghệ Lai Châu

Những mùa khai hoang – Hiếu Trung Long

Biên cương lửa ấm tình người – Hà Minh Hưng


Bài viết liên quan


Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.