Tôi viết những dòng này trong ngày giỗ thứ 21 của bố – người đã đi xa nhưng vẫn ở lại trong cuộc đời mẹ con tôi. Viết để giữ lại chút ký ức yêu thương, để nói ra điều chưa kịp nói và nhắc mình sống thật tốt, như bố từng mong muốn.
Xóm Vù, làng Tứ Xã – một vùng mênh mông, ruộng đồng lồi lõm, nơi thì ngập đến bẹn, chỗ lại gò cao nứt nẻ, người nông dân quanh năm vật lộn với chuyện nơi thì úng, chỗ lại khô, nhọc nhằn, kiên nhẫn canh tác nuôi sống ruộng đồng, chăm chút những thửa lúa đang thì con gái trổ đòng. Mảnh đất ấy thấm đẫm mưa nắng, cơ cực mà cũng đầy yêu thương.
Tuổi thơ của bố tôi lớn lên từ bùn đất, từ mùi rơm khô ngai ngái và những buổi chăn bò lội bì bõm giữa đồng. Niềm vui của trẻ con những năm 1960-1970 chẳng có gì nhiều ngoài những buổi tát nước gầu sòng trên đồng, những buổi chăn trâu, chăn bò, chiều về không quên vác bó cỏ non đặt trước hiên nhà như một món quà dành cho mẹ.
Trong giai đoạn cả miền Bắc gồng mình xây dựng, khôi phục kinh tế sau chiến tranh, nhà nào cũng thiếu trước hụt sau. Căn nhà gỗ ba gian hai trái ông bà nội dựng năm 1974 đã là cả một gia tài lớn. Ngôi nhà đơn sơ nhưng ấm. Cả gia đình chín miệng ăn sống nương tựa, quây quần bên nhau trong căn nhà nền đất lồi lõm, tường ván thưng mỏng, vậy mà tiếng cười vẫn vang mỗi ngày, nhất là những mùa gặt đến.
Mười tám tuổi, rời xa ngôi nhà yêu dấu, bố tôi khoác ba lô nhập ngũ tại Trung đoàn 122 – Sư đoàn 313 Hà Giang. Cũng như bao chàng trai thời ấy, giản dị, hăng hái và tràn đầy niềm tin gửi trọn cho Tổ quốc. Ở nơi rẻo cao biên cương ấy, nguồn động viên của chàng lính trẻ là những lá thư tay từ cô gái xinh nhất xóm quê. Những nét chữ ngại ngùng trên trang giấy mỏng viết bên ánh đèn dầu chở theo bao nỗi nhớ, sự đợi chờ và ước hẹn. Cứ mỗi khi thấy bóng quân bưu, đôi trái tim trẻ lại đập rộn ràng hơn một chút. Tình yêu ấy trong trẻo như giọt sương mai mà lại da diết, nồng nàn như lửa rừng Tây Bắc. Có lẽ vì xa cách nên họ càng thương nhau nhiều hơn, nhớ nhau nhiều hơn để sau này mãi giữ người còn lại trong trái tim đến suốt cuộc đời. Tháng Giêng năm 1982, họ nên duyên vợ chồng bằng một đám cưới đơn sơ. Chú rể diện quân phục, cô dâu áo sơ mi trắng, quần âu, nón mới, chẳng hoa cài, chẳng voan đội đầu. Vậy mà họ vừa e thẹn, vừa ngời nét hạnh phúc đứng trước hai họ như đôi uyên ương đẹp nhất thế gian.
Ba ngày sau cưới, bố phải trở lại đơn vị, còn mẹ ở nhà làm dâu, bắt đầu những tháng ngày thức khuya dậy sớm giữa nỗi nhớ đến nao lòng, nén tình yêu chồng vào từng công việc nhỏ nhất để chờ ngày bố về trong bình yên. Chờ đợi và hy vọng, mẹ mong mỏi một tiếng khóc trẻ thơ sẽ làm vơi bớt nỗi buồn những tháng ngày xa cách. Sáu năm chờ đợi mỏi mòn, cuối cùng tôi – cô con gái đầu lòng, cũng cất tiếng khóc chào đời, như món quà mà tạo hóa gửi đến để sưởi ấm trái tim cả hai người.
Năm 1991, khi tôi lên bốn tuổi, bố xuất ngũ sau khi bị tai nạn xe trong một chuyến công tác, khép lại mười hai năm ròng cống hiến nơi biên cương. Vết thương tưởng chỉ để lại những đường sẹo, vậy mà chính cú va đập ấy đã đánh thức căn bệnh hẹp van tim âm ỉ bấy lâu, trở thành biến chứng đe dọa sự sống của bố từng ngày. Từ đây, những đồ đạc giá trị trong nhà cứ lần lượt đội nón ra đi. Có lần bệnh bố trở nặng, mẹ vội vã gửi tôi và em gái còn nhỏ xíu cho ông bà nội rồi khăn gói cùng bố xuống bệnh viện Trung ương. Tiền bạc tích cóp chẳng còn, mẹ tất tả ngược xuôi vay khắp họ hàng, bạn bè để lo lộ phí và thuốc men chạy chữa. Có người thương góp đôi ba đồng san sẻ, nhưng cũng có người khá giả lại lạnh nhạt, lựa lời từ chối. Trước thử thách cuộc đời và ấm lạnh lòng người, trong thời gian ngắn ngủi, đôi vai người vợ trẻ bỗng trở nên rắn rỏi khác thường. Mẹ học cách giấu nỗi lo vào trong, tập đứng thật vững để làm điểm tựa cho bố và hai chị em chúng tôi bởi mẹ hiểu rằng trên đời này, có những lúc phải trông cậy trước hết vào chính mình.
Quá trình điều trị thành công sau ca đại phẫu, nhưng bố không còn đủ sức gánh vác kinh tế gia đình. Ông trở thành trụ cột tinh thần nhiều hơn là trụ cột vật chất. Và chính điều đó lại khiến bố đau đớn hơn cả những vết mổ lớn trên ngực. Bố sợ mình là gánh nặng, sợ vợ vất vả, sợ các con chịu thiếu thốn. Nhiều đêm, tôi thấy bố thức trắng, trằn trọc trong im lặng, mắt hướng vào bóng tối với nỗi bất lực của một người đàn ông yêu thương gia đình đến tận cùng nhưng không còn đủ sức bảo vệ họ như trước.
Người mẹ của tôi, nhỏ bé mà kiên cường, đã thay chồng gánh vác tất cả. Mẹ xoay xở đủ nghề, làm quên cả bản thân và thời gian. Đêm khuya bên ngọn đèn dầu, tôi thấy bà vần vuốt đếm từng đồng tiền, chắt chiu đồng mua thuốc cho chồng, đồng sách vở cho con. Vất vả, nhọc nhằn, nhưng trong ký ức tuổi thơ của tôi, chưa bao giờ thấy mẹ oán than. Bà luôn dịu dàng, lặng lẽ mà phi thường, như thể sức mạnh của mẹ được sinh ra từ tình yêu thương và lòng tin rằng, chỉ cần mình cố gắng, gia đình này sẽ mãi vẹn nguyên.
Những tưởng sóng gió rồi sẽ qua… nhưng số phận có khi thật nghiệt ngã. Bảy năm từ ngày bố phát bệnh, sau quá nhiều nỗ lực quên mình, mẹ cũng bị đổ bệnh tim, cùng lúc, bố lại phải phẫu thuật lần thứ hai. Biến cố liên tiếp ập đến, dồn dập, như muốn quật ngã gia đình nhỏ của chúng tôi. Chúng tôi liêu xiêu giữa cuộc đời, nhưng càng khó khăn, các thành viên trong nhà lại càng thương nhau nhiều hơn, càng nắm chặt tay nhau hơn để cùng đứng vững. Vậy mà, sau tất cả những nỗ lực níu giữ sự sống, số phận vẫn như muốn thử thách đến tận cùng sức chịu đựng của mỗi người chúng tôi. Đầu tháng 9 năm 2004, bố ra đi sau ca phẫu thuật không thành công. Không lời trăn trối. Không kịp nắm tay vợ. Không kịp ôm các con vào lòng thêm một lần nào nữa. Khoảnh khắc ấy, thời gian như đông cứng, để lại trong mỗi chúng tôi một khoảng trống không gì bù đắp nổi.
Hôm đưa tang bố, tôi chưa kịp tròn 16 tuổi.
Tuổi mười sáu của tôi không còn vô tư, không còn chỗ cho yếu mềm. Mười sáu tuổi, tôi phải đứng vào vị trí người đàn ông duy nhất trong nhà, dù mang hình hài một cô gái nhỏ. Mười sáu tuổi, tôi tập tành che chở mẹ, lo cho em, nén nước mắt để trưởng thành và tiếp bước những điều bố còn dang dở, còn đau đáu chưa yên lòng.
Có những ngày nhớ bố, tôi ước bố còn sống để chứng kiến từng dấu mốc của đời mình: Ngày thi tốt nghiệp, khi cầm tấm bằng đại học, lúc tôi khoác áo cô dâu hay từng lần tôi sinh con… để bố thấy tôi trưởng thành, để bế cháu ngoại. Nhưng những ước mơ ấy… đã nằm lại ở tuổi mười sáu. Tất cả, mẹ là người thay bố chứng kiến, còn bố dõi theo tôi từ một nơi rất xa. Dẫu vậy, tôi tin bố đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình trong kiếp người. Dù thời gian ở bên chúng tôi không dài, bố đã kịp dạy chị em tôi biết yêu thương, để lại trong chúng tôi sự kiên cường. Bố không chỉ cho chúng tôi hình hài, bố còn dựng nên nhân cách chúng tôi hôm nay.
Ngoảnh lại hai mốt năm đã qua. Nỗi nhớ chưa từng nhạt màu. Với tôi, bố vẫn ở đây, trong hơi thở, ký ức và tình yêu khôn nguôi của mẹ, trong nụ cười của các em tôi, trong giấc ngủ bình yên của những đứa cháu ngoại và trong từng trang đời tôi đã đi qua.
Cảm ơn bố vì một đời kiên cường, yêu thương không điều kiện. Cảm ơn bố đã cho con biết rằng: Yêu thương một người là sống tốt mỗi ngày để họ an lòng và tự hào. Cảm ơn bố vì đã cho con được làm con của bố.
Con gái mãi yêu bố!
MINH THƯ
> Xem thêm:
Xanh niềm hy vọng – Phùng Hải Yến
