Luận bàn về các khuynh hướng sáng tác văn học trên văn đàn Việt Nam từ sau đổi mới 1986 – Tiếp cận từ văn hóa
Độ lùi thời gian và nhu cầu nhìn lại
Tinh thần “ôn cố tri tân” đang là động hướng tinh thần thời đại. Chúng ta đã sống và lao động qua nửa thế kỷ của thời kỳ hòa bình, thống nhất đất nước. Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đúc kết những kinh nghiệm của chặng đường đã đi qua, là một việc làm cần thiết để thiết kế đường đi nước bước cho tương lai. Văn học nghệ thuật là một bộ phận nhạy cảm và tinh tế bậc nhất của văn hóa, đặc biệt khi văn hóa được quan niệm như là một trong bốn trụ cột của phát triển xã hội bền vững. “Văn hóa còn thì dân tộc còn” như là kim chỉ nam hành động của chúng ta trong thời đại kỹ trị và gia tốc thời đại.
Cảm hứng và khuynh hướng sáng tác nhìn từ hệ quy chiếu mới
Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra mối liên quan mật thiết giữa cảm hứng sáng tác và khuynh hướng sáng tác văn học của mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau. Trong thời đại cách mạng và chiến tranh (1945-1975) cảm hứng anh hùng (M. Gorki – “Thời đại anh hùng đòi hỏi một nền nghệ thuật anh hùng”) đã quyết định khuynh hướng sáng tác sử thi – lãng mạn của toàn bộ nền văn học với một quan niệm “mĩ học thời chiến”: đề cao phạm trù “cái anh hùng”, “cái đẹp”, “cái trác tuyệt”; tụng ca chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, khắc họa hình ảnh con người lý tưởng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Vị thế của nhà văn là “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy”, “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi”,… Đối tượng phản ánh của văn học thời chiến là chủ nghĩa anh hùng toàn dân, là những người anh hùng có danh và vô danh.
Sang thời hòa bình, văn hóa cứu quốc vận động, chuyển hóa thành văn hóa kiến quốc, cảm hứng của văn học chuyển đổi, mở rộng, hướng tới hòa bình, sự sống, con người, dựng xây, phát triển, hội nhập, hướng tới tự do – công bằng – bác ái. Từ cảm hứng yêu nước đến cảm hứng nhân văn được quan niệm như là đại lộ lớn của văn học từ chiến tranh sang hòa bình. Khi xác định “Văn hóa còn thì dân tộc còn” cũng đồng thời xác nhận vai trò của văn học trong việc xây dựng những nhân cách văn hóa như là yêu cầu tối cao của các hoạt động tinh thần. Nhân vật trung tâm của văn học rõ ràng vận động từ các phạm trù tính cách – nhân cách – phẩm cách; từ anh hùng, xả thân vì nghĩa lớn sang thông minh, sáng tạo và cống hiến.
Vấn đề thế hệ nhà văn và khuynh hướng sáng tác
Lý luận và thực tiễn cũng đồng thời chỉ ra mối liên quan giữa thế hệ sáng tác và cảm hứng sáng tác. Thực tiễn văn học Việt Nam sau 1975 đã chỉ ra sự nối tiếp, gối chồng của nhiều thế hệ (tiền chiến, chống Pháp, chống Mỹ, hậu chiến, làn sóng mới – 7X, 8X, 9X,…). Mỗi thế hệ tương thích với một kiểu cảm hứng và sự lựa chọn khuynh hướng, phong cách, bút pháp, kỹ xảo riêng. Khi người ta trẻ người ta cảm xúc khác và viết khác. Tất nhiên, vấn đề “hướng ngoại” hay “hướng nội” cảm xúc, mối quan hệ giữa “tôi” và “ta” ở mỗi thế hệ là không trùng phùng. Thế hệ cổ điển thì cảm xúc “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi” (Xuân Diệu), viết là cách thể hiện “hùng tâm tráng chí” như hào khí của đoàn quân Tây Tiến (Quang Dũng). Thế hệ sau thì ám ảnh về “xác phàm” (Nguyễn Đình Tú), “cơ bản là buồn” (Nguyễn Ngọc Thuần), “cô độc” (Uông Triều),….
Sự mở cửa, giao lưu văn hóa quốc tế cũng tác động đến cảm hứng sáng tác văn học theo khuynh hướng hỗn dung, hòa nhập. Các chủ nghĩa – ism (Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Phi li chẳng hạn) du nhập Việt Nam khiến không ít người viết văn thiếu bản lĩnh vồ vập, vận dụng thiếu sáng tạo khiến cho tính lai căng chèn lấn tính bản địa, dân tộc. Xuất hiện một dạng thức cảm hứng và khuynh hướng sáng tác văn học được tung hô là hiện đại với ý đồ làm mới và cải tổ, hơn thế là tạo nên một “cuộc cách mạng” trong văn học, với nhuệ khí “chôn Thơ mới”, thậm chí coi văn chương chỉ là “trò chơi vô tăm tích”.
Các khuynh hướng sáng tác văn học từ sau đổi mới 1986
Trong nửa thế kỷ (1975-2025) trên văn đàn Việt Nam đương đại xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác văn học, điều đó chứng tỏ tinh thần của đổi mới mở ra tự do sáng tạo với văn nghệ sỹ. Sự lựa chọn khuynh hướng sáng tác trước tiên tùy thuộc vào sự lựa chọn của chủ thể trên nền tảng tư tưởng – nghệ thuật và phong cách cá nhân. Nhưng tựu trung, không hề tách rời những quy định có tính khế ước xã hội, của hoàn cảnh văn hóa – lịch sử – tâm lý thời đại mới. Nhìn tổng thể, chúng ta thấy xuất hiện và tồn tại song song nhiều khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, nổi bật và thống ngự trên văn đàn vẫn là hai khuynh hướng sáng tác chính, có thành tựu, góp phần quan trọng tạo nên diện mạo và sắc thái văn chương đương đại: khuynh hướng nhận thức lại thực tại và khuynh hướng tiếp cận thế giới tâm linh.
Khuynh hướng nhận thức lại thực tại
Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là con đường của nhận thức chân lý theo tinh thần biện chứng. Nhận thức chân lý không chỉ diễn ra một lần, ngay lập tức mà là một quá trình tiệm tiến dài lâu, đòi hỏi mỗi cá nhân và một thế hệ nhà văn phải có tinh thần đón đợi. Cách đây gần tám mươi năm, Nguyễn Đình Thi đã viết bút ký nổi tiếng Nhận đường (1948) thể hiện cuộc đấu tranh về tư tưởng – nghệ thuật của người nghệ sĩ ngôn từ trong bối cảnh mới cách mạng và kháng chiến. Gần 80 năm sau, những vấn đề được nhà văn đặt ra trong Nhận đường vẫn còn nóng hổi ý nghĩa thời sự – nghệ sĩ phải lớn vượt lên đồng hành cùng đất nước và nhân dân, nghệ sĩ nhất quyết không thể là “tên hề đồng lóc cóc chạy theo đời sống”. Quá khứ quy định hiện tại, hiện tại quyết định tương lai. Vì thế khuynh hướng nhận thức lại thực tại, có thể nói, là nổi bật và có thành tựu hiển nhiên trong thực tiễn sáng tác văn học 50 năm qua (1975-2025), đặc biệt sau Đổi mới (1986). Nhân thức lại xã hội và con người đánh dấu sự trưởng thành của một dân tộc, thế hệ cũng như một cá nhân.
Tiểu thuyết Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu được coi như một “đột phá khẩu” của văn học Đổi mới, đồng thời được ghi nhận như là tác phẩm mở màn cho khuynh hướng nhận thức lại thực tại trong văn học Việt Nam đương đại. Nhân vật Giang Minh Sài mang trong mình vấn đề có ý nghĩa triết học – văn hóa – đạo đức – tâm lý của một thế hệ: sự mất cân bằng giữa cái “tôi” và cái “ta”; sống đúng bản ngã không hề là đơn giản, không tùy thuộc vào ý chí luận có tính chủ quan. Nhân vật Giang Minh Sài đã đi từ tác phẩm vào đời sống thể hiện một tư duy mới về kiếp nhân sinh và số phận con người. Tiếp theo là những truyện ngắn “chia đôi dư luận” của Nguyễn Huy Thiệp như Tướng về hưu, Không có vua, Những bài học nông thôn,…đã khiến cho văn đàn trở nên náo nhiệt. Nhà văn đem đến một cái nhìn mới, lạ về đời sống xã hội và con người theo tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh, phi lý. Ma Văn Kháng với những tiểu thuyết thành công như Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú đã đem đến một cái nhìn mới có tính đa chiều về đời sống trong tính hiện sinh, hiện đại của nó. Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dương Hướng với Bến không chồng (ba tác phẩm đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1991), đã cảnh tỉnh cách nhìn thực tại đơn giản, một chiều. Gần hơn cả, tiểu thuyết Một ví dụ xoàng (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 2021) của Nguyễn Bình Phương cũng tạo nên những cảm xúc và cách tiếp nhận trái chiều về một hiện tượng phổ quát của con người – sống và chết nhưng sâu xa để nói về giá trị của sự sống, của sinh mệnh con người, vì “người ta là hoa đất”.
Đề tài lịch sử cũng chính là nơi dung chứa tinh thần nhận thức lại thực tại: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Tám triều vua Lý và Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Thông reo Ngàn Hống của Nguyễn Thế Quang, Từ Dụ thái hậu và Công chúa Đồng Xuân của Trần Thùy Mai, Chim bằng và nghé hoa của Bùi Việt Sỹ, Minh sư của Thái Bá Lợi, Mỹ nhân nơi đồng cỏ của Lê Hoài Nam, Thiên thu huyết lệ của Nguyễn Trọng Tân, Kỷ nguyên của Nguyễn Trãi của Trần Thị Thắng, Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh, Trần Khánh Dư của Lưu Sơn Minh, Sương mù tháng giêng của Uông Triều,… Lịch sử được tiếp nhận qua những tác phẩm này có cả ánh sáng và bóng tối, cả thăng và trầm, cả phần lộ diện và cả phần khuất lấp. Khuynh hướng nhận thức lại thực tại (lịch sử) qua trường hợp Hồ Quý Ly (Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất, 1998-2000, của Hội Nhà văn Việt Nam) của Nguyễn Xuân Khánh là một bài học nghệ thuật độc đáo.
Đề tài chiến tranh cách mạng là nơi in đậm tinh thần nhận thức lại thực tại: Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Truyền thuyết về Quán Tiên của Xuân Thiều, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê, Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, Đỉnh cao hoang vắng của Khuất Quang Thụy, Hương của Nguyễn Thụy Kha, Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một, Những người lính chiến của Vũ Quốc Khánh, Vầng trăng Him Lam của Châu La Việt… là những tác phẩm viết về chiến tranh được đón chào nồng nhiệt. Chiến tranh trong các tác phẩm này được tái hiện trong hình thái đa dạng, phong phú và phức tạp. Các cung bậc cảm xúc trộn lẫn vui và buồn, được và mất, máu và hoa, nhân cách và phi nhân cách, viết cả về mặt sau của tấm huân chương cũng như những khúc khải hoàn ca chiến thắng. Chiến tranh đã tạo ra những “đất trắng”, “bến không chồng”, “nỗi buồn”, “buốt giá”, “hoang vắng”, “rừng đói”, “miền hoang”, “lạc rừng”,… Chiến tranh phơi bày sự thật “máu người không phải là nước lã”, “chiến tranh không phải trò đùa”. Viết chiến tranh là nhằm tố cáo chiến tranh, đề cao khát vọng hòa bình, khát vọng sống bình thường thuận theo lẽ tự nhiên (thuận thiên). Cảm xúc (cảm hứng) về cái bi kịch rõ nét, tác phẩm thấm đượm cả nỗi buồn, nhưng là nỗi buồn đẹp, có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Giới nghiên cứu thống nhất nhận định đề tài truyền thống (lịch sử, chiến tranh cách mạng) đã thực sự có nhiều đóng góp lớn, tạo nên các giá trị căn cốt của văn chương đổi mới Việt Nam đương đại.
Một liên hệ cần thiết với lĩnh vực thơ ca để có thêm bằng chứng thuyết phục về tinh thần rốt ráo nhận thức lại thực tại chiến tranh: ở tuổi 82, nhà thơ Hữu Thỉnh hoàn thành trường ca Giao hưởng Điện Biên (xuất bản tháng 4/ 2024, kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 7/5/1954 -7/5/2024). Tác phẩm đoạt Giải A văn học nghệ thuật, báo chí về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng giai đoạn 2020 -2025 của Bộ Quốc phòng. Đã có nhiều tác phẩm thành công về kỳ tích lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, “Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” (Tố Hữu). Nhưng Giao hưởng Điện Biên vẫn mở được lối đi vào lịch sử bằng tầm nhìn văn hóa. Suy cho cùng, chiến thắng của dân tộc Việt Nam trước các thế lực ngoại bang hùng mạnh và tàn bạo chính là chiến thắng của văn hóa của một dân tộc có truyền thống “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn/ Lấy chí nhân thay cường bạo” (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi). Trong âm nhạc, giao hưởng là một tác phẩm lớn, có quy mô của một “panorama” (toàn cảnh). Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 56 ngày đêm cũng chính là một giao hưởng chiến tranh “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ” với phương châm “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.
Khuynh hướng tiếp cận thế giới tâm linh
Nhà văn Pháp André Malraux (1901-1976) đã có một nhận định thuyết phục “Thế kỷ hai mươi là thế kỷ của tâm linh”. Đến thập niên thứ ba của thế kỷ hai mốt (XXI) nhận định trên vẫn còn phù hợp nhìn từ thực tiễn đời sống tinh thần của nhân loại nói chung, người Việt Nam nói riêng. Chúng ta có thể nói về một “cảm thức tôn giáo’ có tính nhân loại trong lịch sử loài người từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Nhà bác học Albert Einstein – chủ nhân Thuyết Tương Đối đã viết “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên (trong) cái nhất thể đầy ý nghĩa và Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”. Thiết nghĩ, hiện thế giới có 10 tôn giáo lớn, thì nhận định của nhà bác học có thể sẽ phổ quát cho tất cả các tôn giáo, không riêng gì Phật giáo!? Điều đó được lý giải kỹ càng trong sách Mười tôn giáo lớn thế giới (Nxb Chính trị quốc gia, H.1999).
Ảnh hưởng của tôn giáo đến văn hóa, văn học ngày càng rõ nét và ngày càng kích thích mạnh mẽ cảm hứng sáng tác với nhiều nhà văn Việt Nam hiện nay. Đời sống tâm linh của người Việt Nam hiện nay được bảo chứng trong con số hơn 8000 lễ hội một năm, gắn chủ yếu với tinh thần và đức tin Phật giáo. Từ “tâm hồn” đến “linh hồn” như một hình thái tâm lý xuyên văn hóa của sáng tác văn học phản ánh cảm thức tôn giáo của con người thời đại. Ngay trong bài thơ Tây Tiến (1948) Quang Dũng đã đặt bút viết “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Chữ “hồn” trong câu thơ đầy ám gợi tâm linh này hẳn là “linh hồn” chăng? Những người lính đầu xanh tuổi trẻ đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mãi mãi sống với non sông đất nước, với nhân dân tận trong sâu thẳm tâm thức cộng đồng. Ký ức lương thiện về cuộc chiến tranh chính nghĩa và chiến thắng cuối cùng phải trả giá bằng “máu người không phải là nước lã”, mãi mãi là một thực thể cả về tinh thần lẫn vật chất, xác nhận sợi dây liên hệ vừa vô hình, vừa hữu hình giữa những người hy sinh và những người sống.
Tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã cung cấp những bằng chứng thực tiễn xác thực và sinh động về khuynh hướng sáng tác tiếp cận đời sống tâm linh của con người thời đại: Trăm năm thoáng chốc của Vũ Huy Anh, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Họ vẫn chưa về của Nguyễn Thế Hùng, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, Ngược mặt trời của Nguyễn Một, Mưa đỏ của Chu Lai, Huyết ngọc của Tống Ngọc Hân, Vùng biên không yên tĩnh của Thương Hà, Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một,… Cùng khuynh hướng tiếp cận thế giới tâm linh nhưng mở rộng hơn biên độ và giao diện phản ánh, tiểu thuyết Nàng Thê của Võ Thị Xuân Hà kết hợp, pha trộn các yếu tố tâm linh và thần linh khiến cho hiện thực đời sống xã hội, thế giới tinh thần của con người được mở ra vô bờ bến, đúng với ý nghĩa có tính triết học – văn hóa khi mỗi cá nhân được nhận thức như là một “tiểu vũ trụ” trong một “đại vũ trụ” bao la là dải thiên hà bất tận.
Khi nói về cảm thức tôn giáo đã, đang và sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến đời sống tinh thần, văn hóa, văn học nghệ thuật ngày nay không thể không nói đến sự kiện lớn – ĐẠI LỄ VESAK LIÊN HỢP QUỐC 2025 lần thứ 20 tổ chức tại Việt Nam – đã đề cao “Đoàn kết và bao dung vì nhân phẩm, nuôi dưỡng bình an nội tâm vì hòa bình thế giới; tha thứ chữa lành bằng chánh niệm và hòa giải; Từ bi Phật giáo trong hành động” (Tuyên bố Thành phố Hồ Chí Minh, theo VietnamPlus).
Kết luận
Có một số ý kiến có tính xác quyết cho rằng có một chủ nghĩa hậu hiện đại (POSTMODERNISM) như một khuynh hướng sáng tác mới mẻ và quan trọng trên văn đàn Việt Nam đương đại, nhà văn ta nhất quyết phải “tiếp biến” (biểu hiện qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Đặng Thân, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư,…). Tuy nhiên, không ít người trong văn giới (cả nghiên cứu phê bình, cả sáng tác) vẫn còn nghi ngại, phân vân với câu hỏi “Có hay không có “hậu hiện đại” trong thực thể văn học Việt Nam đương đại?”. Vì lẽ đó, theo chúng tôi, nếu dứt khoát nói (như kiểu “đinh đóng cột”) “có” hay “không có” chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương đương đại Việt Nam thì sẽ dễ rơi vào phiến diện, cực đoan. Nói hình ảnh thì nó (Chủ nghĩa hậu hiện đại) là một “hiểm địa văn chương” với giới sáng tác cũng như nghiên cứu – lý luận – phê bình văn học Việt Nam đương thời. Đồng thời có thể coi nó là một “cơn sốt nhẹ”, không cần điều trị thuốc, rồi có thể cũng giảm nhiệt theo cơ chế đề kháng của cơ thể – một thực thể văn học Việt Nam hiện đại không thể nói là không giàu nội lực và triển vọng.
Chúng tôi xin được chia sẻ với quý vị cử tọa hai vấn đề có thể cần tiếp tục đối thoại cởi mở: 1/ Phải chăng bất kỳ lý thuyết nghệ thuật nào khi vào Việt Nam thì cũng đã ở trạng huống “cũ người mới ta”?; 2/ Phải chăng thực tiễn cho thấy thế giới đã bỏ qua Chủ nghĩa hậu hiện đại, có thể đã tới “Hậu hậu hiện đại” ? Vậy nếu chúng ta tiếp thu thiếu chọn lọc và vận dụng thiếu sáng tạo thì khác nào tình cảnh “đẽo cày giữa đường”, hay “gọt giày cho vừa chân”, thậm chí “trói voi bỏ rọ” để hòng không mang tiếng lạc hậu, để chứng tỏ chúng ta là hợp thời, cập thời vũ?, thậm chí là cấp tiến!
Theo chúng tôi, cần thiết củng cố và lan tỏa quan niệm “Đến hiện đại từ truyền thống” – như là con đường chính đạo của hoạt động văn học (nghiên cứu, sáng tác). Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có ý kiến xác đáng và thuyết phục, đáng suy ngẫm “Đi hết dân tộc chúng ta sẽ gặp nhân loại”.
BÙI VIỆT THẮNG
