Mưa rả rích suốt đêm ngày, trắng xóa mái nhà, đục ngầu khe suối, dội vào lòng người những nỗi lo không tên. Gần tháng nay, trời không ngớt mưa, như muốn nuốt chửng cả núi rừng. Hà đứng bên hiên, lặng nhìn những vệt nước đan chéo thành tấm màn dày phủ kín lối đi. Trong lòng anh thấp thỏm, chỉ mong trời tạnh để chuyến hàng cứu trợ ngày mai an toàn tới nơi, để những món quà gom góp từ bao tấm lòng sớm đến được với bản làng sau lũ.
Hà không nhớ đây là lần thứ bao nhiêu nhóm thiện nguyện do anh kêu gọi lại ngược núi. Mỗi chuyến đi là một hành trình khác, gian nan khác, nhưng nỗi nhói lòng vẫn nguyên vẹn khi thấy những đứa trẻ vùng cao phong phanh trong làn áo mỏng, mắt trong veo in bóng núi. Những buổi sáng, khi mây còn quấn quanh lưng núi, tiếng gọi nhau í ới dậy sớm chất đồ lên xe, và giờ, một hành trình mới lại bắt đầu.
Điểm đến lần này là trường tiểu học Sa Chải, nơi vừa oằn mình gánh chịu trận lũ quét dữ dội. Hình ảnh lớp học tốc mái, bàn ghế ngổn ngang, sân trường lầy lội đặc kín trên mạng xã hội khiến tim Hà thắt lại. Không thể chờ thêm, anh lập tức liên hệ với Ban giám hiệu nhà trường. Cuộc gọi đầu tiên chỉ nghe toàn tiếng mưa đập vào mái tôn, nhưng giọng thầy hiệu trưởng vẫn ấm và vững: “Cảm ơn các anh chị đã nghĩ tới tụi nhỏ…”.
Mọi việc nhanh chóng vào guồng. Danh sách nhu yếu phẩm được gửi đến: sách vở, bút thước, quần áo ấm, dép nhựa… những thứ bình thường dưới xuôi nhưng là cả mùa hy vọng nơi rẻo cao. Ngoài ra, đoàn còn chuẩn bị học bổng đầu năm học từ nguồn quyên góp của các mạnh thường quân, như ngọn gió nâng bước những đôi chân bé nhỏ băng qua mùa lũ đến với con chữ.
Sau một ngày vượt đèo dốc, xe đoàn đặt bánh tới trung tâm tỉnh. Đường lên Sa Chải gấp khúc như sống váy người Mông, càng lên cao, sương mù đặc quánh, xe bật đèn vàng nhích qua từng khúc cua hun hút. Không ai than vãn, bởi ai cũng hiểu: phía trước là những ánh mắt háo hức của lũ trẻ, những bàn tay nhỏ đã quen cầm cuốc, cầm dao, nay lại sắp được chạm vào trang vở thơm mùi giấy mới.
Đoàn dừng chân nghỉ lại ở một nhà nghỉ ven đường, tranh thủ chợp mắt. Sáng mai sẽ vào bản sớm. Trong giấc ngủ chập chờn, Hà mường tượng tiếng reo vui vỡ òa dưới sân trường, tiếng gọi nhau í ới giữa đám trẻ con. Và đâu đó, như vọng về tiếng suối rì rào đang rửa trôi những vết tích đau thương, để lại một mùa khai trường mới sạch trong và đầy ắp tình người.
Mưa đã ngớt. Những vệt nắng đầu tiên sau bao ngày âm u len lỏi qua tán rừng, rải vàng lên mặt đường còn loang lổ nước. Có lẽ ông trời cũng thấu tấm lòng “nghĩa đồng bào” mà thương, mà lặng lẽ gạt mây cho hành trình của đoàn bớt gian nan.
Xe dừng lại ven một con đường nhỏ heo hút, bên bìa rừng. Một vài lán tre dựng tạm làm sạp bán hàng, lấp ló dưới tán sa mộc, khói bếp củi vương thơm lẫn trong mùi mắc khén và măng khô hong nắng. Đoàn tranh thủ nghỉ chân, người thì duỗi chân, người ghé mua chút đồ rừng làm quà.
Giữa làn khói mỏng, một cô gái người Mông độ đôi mươi, vấn tóc cao, mặc áo chàm thêu chỉ đỏ, nhanh nhẹn xếp măng vào lù cở, ngẩng lên cười tươi như nắng vừa tan mưa:
– Đoàn mình lên Sa Chải cứu trợ đúng không?
Hà ngạc nhiên:
– Ơ… sao em đoán hay thế?
Cô gái cười, lúm đồng tiền thoáng hiện bên má:
– Nhìn biết thôi mà! Không phải xe chở hàng buôn, lại toàn người trẻ, đi hướng này thì chỉ có lên đó thôi!
Vừa thoăn thoắt gói hàng, cô vừa kể chuyện, giọng mộc mạc như hơi thở núi rừng: “Lũ vùng này về bất ngờ lắm. Mới đây, suối Can Tỷ đang cạn mà chốc lát nước dâng cuồn cuộn, cuốn trôi cầu gỗ, đất đá sạt lở đổ xuống tận nương. Nhà cửa thì thiệt hại, nhưng thương nhất là trường tiểu học. Cả sân ngập bùn, bàn ghế hỏng hết. Mấy hôm nay, các chú bộ đội trên đồn xuống, cán bộ huyện với thầy cô cũng xắn quần, tay xẻng tay chổi, dọn từng phòng học để mấy đứa nhỏ sớm được quay lại lớp. Con em bản em học lớp hai, cứ ngày nào cũng ra cổng ngóng xem lớp đã dọn xong chưa…”.
Tôi lặng đi. Giữa vùng rẻo cao này, nơi mà con chữ vẫn phải lội suối trèo đèo mới tới được, một trận lũ không chỉ làm đất lở, mà còn khoét sâu những nhọc nhằn. Nhưng rồi, cũng chính ở nơi tưởng chừng khốn khó nhất ấy, lại bừng lên những điều đẹp đẽ từ lòng người, từ sự sẻ chia không biên giới.
Gió từ rừng thổi về, mang theo hương đất mới và chút mùi gỗ mục sau mưa. Cô gái dúi thêm vào tay tôi một bọc nhỏ:
– Củ mài rừng đấy, em để thêm cho đoàn. Mấy hôm đi bản, nấu canh ăn cho lại sức.
Hà nắm chặt bàn tay ấm của cô gái, mắt cay nhẹ. Ở nơi núi cao rừng thẳm, tình người cứ giản dị mà sâu nặng như thế, không phô trương, không ồn.
Bản người Mông hiện ra lúp xúp sau những tầng mây sớm, như một bức tranh bị vò nhàu giữa đại ngàn vừa trải qua giông tố. Những mái nhà vách gỗ nâu bạc thấp thoáng giữa rừng mận rừng đào, xung quanh là ngổn ngang cành cây đổ, những thân gỗ mục nằm bẹp dưới đất, dấu vết còn hằn rõ của trận lũ dữ vừa đi qua.
Trường tiểu học Sa Chải hiện ra trong ánh sáng mờ sương, tơi tả thật đau thương. Sân trường ngập bùn, lầy lội như thửa ruộng mới bừa, từng vạt đất nhão nhoẹt in dấu chân người lẫn bánh xe cút kít. Góc này là bàn ghế gãy đổ, góc kia vách lớp học trơ khung, mái tôn lật nghiêng như bị cơn gió hung hãn ném quăng ra khỏi mái nhà.
Giữa cảnh tượng ấy, không gian lại rộn ràng những âm thanh của sự hồi sinh. Phía trước tiếng xẻng, cuốc, cưa đục, xen lẫn tiếng cười vang núi. Hối hả, người đẩy bùn, người khiêng đất đá, người dựng cột nhà đã xiêu vẹo. Khẩn trương nhất là những chú bộ đội áo lấm bùn, tay xẻng tay búa, miệng vẫn không quên động viên bọn trẻ bằng một câu tiếng Mông lơ lớ khiến cả đám phá lên cười.
Bên góc lớp học bị tốc mái, cảnh trai tráng tay thoăn thoắt trộn hồ, lợp mái. Già bản Giàng A Lâu tóc bạc như cước, bước đi chậm chạp nhưng ánh mắt vẫn rắn rỏi, đứng chống gậy nhìn quanh, thỉnh thoảng lại nhắc đôi câu, chỉ chỗ cần sửa. Ông bảo: “Trường học là cái gốc của bản ta, bằng mọi giá phải xong để con em bản sớm trở lại trường”.
Ở một góc sân, vài cô giáo trẻ đang phơi lại sách vở cứu được sau trận lũ. Bàn tay họ sạm nắng, tóc xõa lòa xòa, nhưng đôi mắt sáng ánh hy vọng. Em Sùng Thị Dúa, học sinh lớp bôna ôm cặp ngồi nép bên cửa sổ vỡ, thì thầm: “Cô ơi, khi nào lớp mình học lại ạ? Em nhớ cái bảng đen của lớp lắm rồi!”. Câu hỏi ấy như thắt lấy tim người. Đó không chỉ là nỗi nhớ một lớp học, mà là khát vọng của một đứa trẻ giữa vùng núi bị lũ vùi dập, vẫn đau đáu mong được học hành, được lớn lên bằng con chữ.
Quên khuấy cả những thùng hàng cứu trợ vẫn còn chất đầy sau thùng xe, Hà và mọi người lao vào công việc với một tâm thế gấp gáp, như thể từng phút trôi qua đều là thiệt thòi của lũ trẻ vùng cao. Những đôi tay vốn quen cầm bút, cầm máy ảnh nay lấm lem bùn đất, xắn tay cuốc dọn từng vạt sân trường ngổn ngang sau lũ. Mồ hôi chảy dọc theo gò má, hòa cùng bụi đỏ và hơi đất ẩm ngai ngái.
Trưởng bản Mùa A Sìn, người đàn ông vai rộng, lưng áo chàm thấm mồ hôi, bước đến giữa sân, theo sau là một đoàn bà con dân bản, người bưng ấm trà xanh bốc khói, người tay nâng rổ ổi rừng vừa hái, còn đọng sương. Họ xúm xít như đón khách quý về bản, miệng cười mà mắt thì ánh lên sự biết ơn không nói thành lời. Ông Sìn cất giọng trầm mà ấm, tiếng Mông pha tiếng phổ thông:
– Cả nhà ơi, nghỉ tay uống chén nước đã. Kìa các chú bộ đội, các cháu đoàn cứu trợ, làm mãi mà quên cái bụng à? Ổi rừng mới hái, trà thì vừa nấu trên bếp củi nhà tôi đấy!
Hương trà xanh quyện cùng hương núi rừng, thơm như sợi khói lò than giữa mùa đông. Cạnh đó, lũ trẻ chân trần, tóc rối tung sau giờ giúp người lớn xúc đất, ríu rít chia nhau những quả ổi rừng nứt vỏ, thơm nồng. Có đứa còn e dè dúi cho cô giáo mình một quả, miệng lí nhí: “Cô ăn đi, quả này ngọt đấy!”.
Hà và các thành viên ngồi xuống, lặng lẽ uống trà, ăn ổi, và nhìn quanh. Núi đồi vẫn còn những vết lũ quét, bản làng vẫn còn những mái nhà chưa lợp kín… nhưng giữa giây phút nghỉ chân ấy, có một thứ gì đó thật ấm áp lan tỏa, nhưng người vùng cao vẫn quen gọi là “nghĩa đồng bào”.
– Kìa… ai như Tuấn Anh, phải không?
Anh bộ đội quay lại, ánh mắt ngơ ngác giữa nắng trưa miền biên viễn. Một thoáng sững người, rồi anh bật lên tiếng gọi, đầy xúc động:
– Hà… đúng là Hà rồi!
Chúng tôi lao tới, ôm choàng lấy nhau giữa sân trường lầy lội bùn đất, như thể vừa vượt qua bao núi rừng, năm tháng, để quay lại khoảnh khắc tuổi mười tám ngày xưa. Cả đoàn dừng tay, ngoái nhìn, ánh mắt lấp lánh niềm vui bất ngờ. Những tràng cười rộn lên, trong veo như tiếng suối đầu nguồn.
– Sao ông lại ở đây? Lên Sa Chải làm gì? – Hà tay vẫn chưa buông khỏi vai bạn.
– Còn ông? Tính cũng bỏ phố lên rừng sao?
Hà và Tuấn Anh học cùng lớp cấp ba, hai đứa khác xã nhưng thân nhau vì cùng mê Toán – Lý. Nhớ cái hôm chia tay, bọn con trai chuyền nhau chiếc bút lông để ký loằng ngoằng lên áo trắng, đứa nào cũng cố vẽ vài dòng “lưu bút để đời”. Có đứa còn trích cả lời bài hát “Mong ước kỷ niệm xưa” viết kín vạt áo bạn. Mấy hôm sau, sân trường im lặng đến lạ. Cánh phượng cuối cùng rơi xuống mặt sân, đỏ rực như một dấu lặng trước khi ai nấy vùi đầu vào thi cử.
Hà yêu những con số, mê vẽ kỹ thuật và máy móc từ thuở bé nên chẳng đắn đo khi chọn ngành cơ khí của Đại học Bách khoa Hà Nội. Ra trường, tôi đầu quân cho một nhà máy kim khí của tập đoàn lớn, cuộc sống xoay đều giữa dây chuyền, hợp đồng và những nhịp sống công nghiệp nơi phố thị. Còn Tuấn Anh thì khác. Nó ưa khám phá, gan lì và luôn mơ những giấc mơ xanh mướt của miền biên viễn. Nhớ những năm cấp ba, Tuấn Anh đã say sưa kể về bố – người lính biên phòng gần nửa đời gắn bó với sương gió Tây Bắc. Những câu chuyện về lần hai mẹ con lên biên giới đón Tết, gói bánh chưng bằng lá rừng, đêm nằm nghe tiếng chó sủa vọng từ bên kia biên giới khiến khóe mắt cay xè… đã gieo vào lòng Tuấn Anh một thôi thúc âm thầm. Chính hạt giống ấy khiến anh lặng lẽ nộp hồ sơ vào Học viện Biên phòng, không cần lời giải thích. Giờ gặp lại, Hà mới biết bạn mình đã là Trung úy vững chãi trong bộ quân phục màu lá rừng từ lâu rồi.
“Tiểu đoàn mình đang phối hợp cùng bà con dựng lại trường học, lũ về bất ngờ quá!” – Tuấn Anh nói, mắt không rời nhóm chiến sĩ đang khom lưng khiêng cột, căng dây, ghép lại khung gỗ cho phòng lớp. Như như sực nhớ, Tuấn Anh chỉ tay về dãy nhà gỗ tạm phía cuối sân:
– À, bọn mình còn là “bố nuôi” của học trò ở đây nữa. Đơn vị đỡ đầu cho hơn hai chục em theo chương trình “Nâng bước em tới trường”. Mỗi em được hỗ trợ năm trăm nghìn đồng mỗi tháng, góp từ chính lương của anh em chiến sĩ.
Hà nhìn theo ánh mắt bạn. Giữa sân trường còn loang lổ vết bùn, lũ trẻ người Mông tóc hoe vàng đang xếp hàng nhận sách mới. Có em chào “bố Tuấn Anh” bằng tiếng phổ thông lơ lớ, có em dúi vào tay anh gói xôi nếp tím còn ấm. Tôi lặng người, tự nhiên thấy những con số “ba trăm ngàn, năm trăm ngàn” trở nên bé nhỏ. Cái lớn lao nằm trong ánh mắt của lũ trẻ, trong nụ cười giản dị của người lính áo xanh, và trong nghĩa tình sâu như suối ngầm miền đá sẫm.
Đêm Sa Chải, sương núi buông xuống bảng lảng như tấm khăn voan mỏng choàng qua mái nhà trình tường lặng lẽ. Sân nhà văn hóa rực sáng bởi ánh lửa hồng, đống lửa do các thầy cô giáo nhóm lên bằng những gốc củi khô. Trong ánh lửa bập bùng, rượu ngô men lá thơm nồng, mọi người ngồi quây quần bên nhau, người Kinh, người Mông, người Thái cùng nâng chén hát bát ca đoàn kết. Có tiếng khèn dặt dìu cất lên từ một chàng trai bản, tiếng đàn môi của cô gái tóc tết sam ngân lên dịu dàng như gió. Mọi người nắm tay nhịp cùng lời hát làm nên một đêm biên cương lửa ấm tình người.
HÀ MINH HƯNG
Xem thêm:
